Con nuôi có được quyền làm thủ tục thừa kế đất đai sau khi cha, mẹ nuôi nuôi qua đời hay không?
Theo quy định của pháp luật về thừa kế, khi cha mẹ chết để lại tài sản thì con cái được hưởng một phần tài sản theo di chúc và quy định của pháp luật. Thừa kế gồm tiền, tài sản, giấy tờ có giá, đất đai,… do cha mẹ để lại. Đặc biệt hơn một chút là thừa kế đất đai được quy định rất chặt chẽ trong Luật Dân sự và Luật Đất đai. Điều kiện và thủ tục thừa kế đất đai từ cha mẹ cho con như thế nào? Tham khảo bài viết dưới đây của Luật Bắc Dương để biết thêm nhiều thông tin bổ ích.
1. Điều kiện công nhận con nuôi hợp pháp
1.1 Điều kiện của người nhận con nuôi
a. Về điều kiện đối với người nhận nuôi
Căn cứ vào khoản 1 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010, người nhận con nuôi phải có đủ các điều kiện sau đây:
“a) Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
b) Hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên;
c) Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi;
d) Có tư cách đạo đức tốt.”
Thứ nhất, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ là người thành niên (người từ đủ 18 tuổi trở lên) và không phải là người bị Toà án tuyên bố bị mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự (Điều 22, 23, 24 Bộ luật Dân sự 2015).
Thứ hai, hơn con nuôi từ 20 tuổi trở lên. Đây là điều kiện về độ tuổi của người nhận nuôi. Tuy không quy định về độ tuổi tối thiểu để có thể nhận nuôi con nuôi, nhưng pháp luật Việt Nam lại quy định sự chênh lệch tối thiểu về độ tuổi giữa người nhận nuôi và người được nhận nuôi. Điều này nhằm đảm bảo người nhận nuôi đủ năng lực hành vi dân sự cũng như hoàn thiện về tâm sinh lý, đồng thời có đủ khả năng tài chính để nuôi một đứa trẻ.
Thứ ba, có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi. Điều kiện về sức khỏe của người nhận nuôi phải tốt, không được mắc các bệnh hiểm nghèo, vì nếu cha mẹ nuôi không có đủ sức khỏe tốt thì việc chăm sóc, nuôi dưỡng con cái cũng bị ảnh hưởng. Ngoài ra, người nhận nuôi còn cần có điều kiện kinh tế vững, nhằm đảm bảo cho trẻ một môi trường sống ổn định. Cùng với đó là dành ra quỹ thời gian để quan tâm, dạy dỗ, chơi đùa cùng trẻ.

Một gia đình có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi (Nguồn: Internet)
Thứ tư, có tư cách đạo đức tốt. Nếu như cha mẹ không có đủ tư cách đạo đức thì đứa trẻ sau này cũng không thể trở thành người tốt, bởi cha mẹ là tấm gương phản chiếu chính xác nhất nhân cách của một đứa trẻ. Đồng thời, quy định này cũng nhằm hạn chế việc lợi dụng trẻ em vào những mục đích không tốt.
b. Những trường hợp không được nhận con nuôi
Bên cạnh những điều kiện để được nhận con nuôi, khoản 2, 3 Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010, còn quy định những trường hợp không được nhận con nuôi, bao gồm:
– Đang bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên;
– Đang chấp hành quyết định xử lý hành chính tại cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh;
– Đang chấp hành hình phạt tù;
– Chưa được xóa án tích về một trong các tội cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em.

Người đang chấp hành hình phạt tù không được nhận con nuôi (Nguồn: Internet)
Đặc biệt cũng cần phải lưu ý rằng, trường hợp cha dượng nhận con riêng của vợ, mẹ kế nhận con riêng của chồng làm con nuôi hoặc cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi thì không áp dụng quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 của điều này.
1.2 Điều kiện của người được nhận làm con nuôi
Điều kiện đối với người được nhận làm con nuôi được quy định tại Điều 8 Luật Nuôi con nuôi 2010, cụ thể:
“1. Trẻ em dưới 16 tuổi
2. Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi;
b) Được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi.
3. Một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của cả hai người là vợ chồng.
4. Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi.”
Thứ nhất, độ tuổi của người được nhận làm con nuôi. Giữa người nhận con nuôi và con nuôi phải tuân theo những điều kiện nhất định về độ tuổi để đảm bảo có sự chênh lệch và khoảng cách cần thiết giữa hai thế hệ. Có như vậy, việc nuôi con nuôi mới đảm bảo được mục đích là xác lập quan hệ cha mẹ và con, đảm bảo cho người được nhận làm con nuôi được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục phù hợp với đạo đức xã hội.
Thứ hai, một người chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc của hai người là vợ chồng. Quy định này được hiểu là luật chỉ cho phép một người độc thân hoặc cả hai người là vợ chồng nhận con nuôi. Như vậy, người đang có vợ hoặc chồng tự đứng ra nhận con nuôi riêng thì sẽ không được chấp nhận, việc nhận con nuôi cần có sự thống nhất của cả hai vợ chồng. Quy định này sẽ hạn chế được việc, nếu trẻ được nhận nuôi theo ý chí của một người vợ hoặc chồng mà người còn lại không đồng thuận thì sẽ gây khó khăn trong quá trình hòa nhập của trẻ, thậm chí là xảy ra tình trạng bạo hành.
Ngoài ra, quy định này cũng được hiểu là mỗi trẻ em chỉ được làm con nuôi của một người độc thân hoặc làm con nuôi của một cặp vợ chồng, chứ không được làm con nuôi của hai người chung sống như vợ chồng hoặc của một bên vợ, chồng. Việc này đảm bảo cho trẻ được nhận nuôi có nơi ăn, chốn ở, sự hoà hợp và ổn định thống nhất trong cách sống, cách chăm sóc, giáo dục.
Thứ ba, Nhà nước khuyến khích việc nhận trẻ em mồ côi, trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khác làm con nuôi. Quy định trên có thể được hiểu là bất kỳ trẻ em nào bị bỏ rơi, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được nhận làm con nuôi nhưng đối với những đứa trẻ được sống trong điều kiện đầy đủ cả về vật chất và tinh thần, cha mẹ có đủ điều kiện nuôi nhưng vì những mục đích khác (cho con đi làm con nuôi để được hưởng chế độ xã hội) thì Luật Nuôi con nuôi đã xếp nó vào các hành vi cấm trong việc nuôi con nuôi theo quy định tại Điều 13 của Luật này.
1.3 Đăng ký nhận nuôi con nuôi (Điều 9 Luật Nuôi con nuôi 2010)
Thẩm quyền đăng ký nuôi con nuôi được quy định tại Điều 9 Luật Nuôi con nuôi 2010, và được hướng dẫn cụ thể tại Điều 2 Nghị định 19/2011/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 24/2019/NĐ-CP), cụ thể:
“1. Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp xã) nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi hoặc của người nhận con nuôi đăng ký việc nuôi con nuôi trong nước.
2. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) nơi thường trú của người được giới thiệu làm con nuôi quyết định việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài; Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương đăng ký việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.
3. Cơ quan đại diện nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ở nước ngoài đăng ký việc nuôi con nuôi của công dân Việt Nam tạm trú ở nước ngoài.”
>>> Tham khảo ngay: Thủ tục, điều kiện nhận con nuôi
Như vậy, thông thường, Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi thường trú của người được nhận làm con nuôi sẽ thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi. Tuy nhiên, đối với trường hợp, cha dượng hoặc mẹ kế nhận con riêng của vợ hoặc chồng làm con nuôi; cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận cháu làm con nuôi hoặc có sự thỏa thuận giữa người nhận con nuôi với cha mẹ đẻ hoặc người giám hộ của trẻ em được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã thường trú của người nhận con nuôi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.
Trường hợp trẻ em bị bỏ rơi chưa chuyển vào cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi lập biên bản xác nhận tình trạng trẻ em bị bỏ rơi thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi; trường hợp trẻ em ở cơ sở nuôi dưỡng được nhận làm con nuôi, thì Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có trụ sở của cơ sở nuôi dưỡng thực hiện đăng ký việc nuôi con nuôi.
2. Con nuôi có được hưởng thừa kế như con đẻ?
Căn cứ vào Điều 653 Bộ luật Dân sự 2015, “con nuôi và cha nuôi, mẹ nuôi được thừa kế di sản của nhau và còn được thừa kế di sản theo quy định tại Điều 651 và Điều 652 của Bộ luật này”. Như vậy, con nuôi hoàn toàn có quyền được hưởng thừa kế như con đẻ.
2.1 Trường hợp cha, mẹ nuôi để lại di chúc
Căn cứ Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015, “di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Như vậy, việc con nuôi có được hưởng thừa kế hay không, trong trường hợp này còn tùy thuộc vào việc, cha, mẹ nuôi có để lại cho con nuôi hay không.

Con nuôi hưởng thừa kế do cha mẹ nuôi để lại di chúc (Nguồn: Internet)
Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, con chưa thành niên hoặc con thành niên mà không có khả năng lao động thì đương nhiên được hưởng phần di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật, nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó (Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015).
2.2 Trường hợp hưởng di sản thừa kế theo pháp luật (Điều 650 BLDS 2015)
Theo điểm a khoản 1, khoản 2, 3 Điều 650 Bộ luật Dân sự năm 2015, trường hợp người chết không để lại di chúc sẽ thực hiện thừa kế theo pháp luật. Theo đó, Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015, quy định:
“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
[…]
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”
Nếu một người được nhận làm con nuôi theo quy định của pháp luật sẽ thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha nuôi, mẹ nuôi; đồng thời vẫn thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cha đẻ, mẹ đẻ của mình. Như vậy, có thể thấy, con nuôi cũng thuộc hàng thừa kế thứ nhất, và mỗi người thừa kế cùng hàng đều được hưởng phần di sản như nhau, tương tự như con đẻ.
Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng, để được hưởng di sản theo hàng thừa kế thứ nhất, con nuôi phải là con nuôi được pháp luật công nhận hợp pháp, tức là đáp ứng các điều kiện như đã trình bày ở trên.
2.3 Các trường hợp không được hưởng di sản thừa kế (Điều 620 BLDS 2015)
Tuy nhiên, không phải trường hợp nào con nuôi cũng đương nhiên được hưởng di sản thừa kế. Bên cạnh việc, con nuôi không hợp pháp thì không được hưởng di sản thừa kế, thì pháp luật Dân sự Việt Nam cũng ghi nhận các trường hợp không được hưởng di sản thừa kế, cụ thể:
– Từ chối nhận di sản theo quy định Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015
– Thuộc các trường hợp quy định tại Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, gồm:
“1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.”
3. Thủ tục để thừa kế đất đai do cha, mẹ nuôi để lại
Thủ tục thừa kế đất đai do cha, mẹ nuôi để lại thực tế là thủ tục cấp, sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, trình tự thủ tục sẽ bao gồm các bước sau đây:
– Bước 1. Nộp hồ sơ
- Nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường hoặc cơ quan tiếp nhận hồ sơ theo quy định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh;
- Hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nộp hồ sơ tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nếu có nhu cầu.
Lưu ý, trong trường hợp con nuôi được thừa kế một phần thửa đất thì phải thực hiện việc đo đạc, tách thửa đối với phần diện tích được hưởng thừa kế trước khi nộp hồ sơ.

Thực hiện thủ tục chuyển đổi (Nguồn: Internet)
– Bước 2. Tiếp nhận hồ sơ
- Trong thời gian tối đa 03 ngày, cơ quan tiếp nhận, xử lý hồ sơ phải thông báo và hướng dẫn người nộp hồ sơ bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định;
- Cơ quan tiếp nhận hồ sơ ghi đầy đủ thông tin vào Sổ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả, trao Phiếu tiếp nhận hồ sơ cho người nộp hồ sơ.
- Trường hợp nộp hồ sơ tại Uỷ ban nhân dân cấp xã thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải chuyển hồ sơ đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.
– Bước 3. Xử lý yêu cầu
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện các quyền theo quy định thì thực hiện các công việc theo quy định pháp luật.
>>> Tham khảo ngay: Dịch vụ tư vấn Luật Đất Đai uy tín tại Luật Bắc Dương
Trên đây là thủ tục thừa kế đất đai của con nuôi. Hy vọng bài viết đã mang lại cho bạn những kiến thức bổ ích. Nếu có bất kỳ thắc mắc hoặc câu hỏi nào, vui lòng liên hệ đến hotline 1900 996 626 để được tư vấn miễn phí!
Tiếng Việt
English








