Thủ tục thừa kế đất đai đối với con ngoài giá thú của bố, mẹ
Hiện nay, xuất hiện rất nhiều bài viết chia sẻ về việc, vợ hoặc chồng có con riêng ở ngoài. Do đó, câu hỏi đặt ra là “con riêng/con ngoài giá thú của vợ hoặc chồng có được quyền hưởng thừa kế hay không?”, đặc biệt là thừa kế những tài sản có giá trị như đất đai. Vậy thì hãy tham khảo bài viết dưới đây của Luật Bắc Dương để có câu trả lời chính xác nhất cho câu hỏi “thủ tục thừa kế đất đai đối với con ngoài giá thú của bố, mẹ” nhé!
1. Như thế nào là con ngoài giá thú?
Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa ghi nhận bất kỳ quy định nào về khái niệm “con ngoài giá thú”. Tuy nhiên, qua quá trình thực tiễn cũng như tài liệu nghiên cứu, có thể thấy, con ngoài giá thú là con mà cha mẹ không phải là vợ chồng trước pháp luật hoặc cha mẹ ăn ở, chung sống với nhau như vợ chồng nhưng việc kết hôn chưa được uỷ ban nhân dân ghi nhận, ghi vào sổ kết hôn.
Như vậy, trường hợp sinh con ngoài giá thú có thể là người mẹ không có chồng mà sinh con; người mẹ có chồng nhưng đã ngoại tình và thụ thai với người khác mà sinh con; hoặc hai bên nam nữ ăn ở, chung sống với nhau như vợ chồng và có con với nhau; cũng có trường hợp là hai vợ chồng đã ly hôn, phán quyết ly hôn của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, sau đó họ lại “tái hợp” chung sống với nhau mà chưa đăng ký kết hôn lại theo thủ tục luật định. Nếu người phụ nữ sinh con trong trường hợp này thì đó là con chung ngoài giá thú của hai người không phải là vợ chồng trước pháp luật. Con ngoài giá thú có thể là “con chung”, cũng có thể là con riêng của một bên cha, mẹ.

Con ngoài giá thú của bố hoặc mẹ (Nguồn: Internet)
2. Con ngoài giá thú nhận thừa kế theo cách nào?
Đầu tiên, cần phải khẳng định rằng, con ngoài giá thú hoàn toàn có quyền được hưởng thừa kế. Bởi lẽ, căn cứ vào khoản 2 Điều 68 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định: “Con sinh ra không phụ thuộc vào tình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với cha mẹ của mình được quy định tại Luật này, Bộ luật Dân sự và các luật khác có liên quan”. Như vậy có thể thấy, con sinh ra không phụ thuộc vào trình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau với cha mẹ của mình. Do đó, nếu cha mẹ chết thì con ngoài giá thú vẫn được hưởng thừa kế (nếu không rơi vào các trường hợp không được nhận thừa kế hoặc từ chối di sản thừa kế).
Căn cứ vào Bộ luật Dân sự 2015, việc nhận thừa kế được chia làm 02 hình thức: (1) Nhận thừa kế theo di chúc và (2) Nhận thừa kế theo pháp luật.
2.1 Nhận thừa kế theo di chúc
Căn cứ vào Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Do đó, người lập di chúc có thể để lại di sản cho bất kỳ ai mà họ mong muốn, miễn là xác định cụ thể trên cơ sở tự nguyện ở trong di chúc. Vì thế, việc con ngoài giá thú có được nhận thừa kế hay không, còn phụ thuộc rất nhiều vào việc người để lại di chúc có để lại tài sản cho con riêng của mình hay không.

Nhận thừa kế theo di chúc (Nguồn: Internet)
Căn cứ vào Điều 613 Bộ luật Dân sự 2015 thì: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết”. Như vậy, có hai trường hợp đối với con ngoài giá thú muốn trở thành người thừa kế theo di chúc:
Thứ nhất, người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế
Vốn dĩ, khi để lại di sản cho người thừa kế, người lập di chúc hy vọng rằng tài sản của mình sẽ được chính người mà họ chỉ định trong di chúc nhận và sử dụng. Nếu người thừa kế không còn sống vào thời điểm chuyển giao di sản thừa kế mà vẫn thực hiện di chúc thì về bản chất ý chí của người để lại di sản chưa thực sự được thực hiện.
“Còn sống” ở đây nên được hiểu theo nghĩa rộng chứ không chỉ trên một phương diện sinh học hay pháp lý. Trên thực tế xảy ra rất nhiều trường hợp khác nhau dẫn đến việc khái niệm “còn sống” bị xê dịch.
Nếu tại thời điểm phân chia di sản mà người thừa kế chết nhưng thời điểm mở thừa kế người thừa kế vẫn còn sống thì di sản thừa kế vẫn thuộc sở hữu của người thừa kế đó.
Nếu trường hợp một người mất tích nhiều năm không có thông tin, đã bị tuyên bố là mất tích nhưng chưa bị Tòa án tuyên bố là đã chết thì vẫn có quyền được hưởng thừa kế.
Thứ hai, người thừa kế là cá nhân phải sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết
Pháp luật hiện nay chưa thừa nhận việc một cá nhân đang là bào thai vẫn có thể hưởng thừa kế, nhưng với điều kiện là phải sinh ra và còn sống. Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện tại, việc xác định sinh ra và còn sống là một vấn đề nhạy cảm và có nhiều quan điểm khác nhau.
Nếu thai nhi được sinh ra và sống khỏe mạnh, phát triển tốt như mọi người thì chuyện được hưởng thừa kế là chuyện bình thường. Nhưng nếu việc một đứa trẻ sinh ra và chết thì chết ở thời điểm nào cũng là vấn đề cần làm rõ. Bởi hai câu trả lời khác nhau sẽ đến những hậu quả pháp lý trái ngược nhau.
Hiện nay, vẫn chưa có văn bản cụ thể nào hướng dẫn vấn đề xác định một đứa trẻ sinh ra và sống được bao nhiêu lâu thì được coi là “còn sống”. Vì vậy, việc xem xét và có hướng dẫn cụ thể cho vấn đề này để tránh vướng mắc trên thực tế là việc cần phải thực hiện.
Cũng cần phải lưu ý rằng, mặc dù hiện nay tại Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định các trường hợp không được quyền hưởng di sản, nhưng nếu trong di chúc mà người để lại di sản đã biết các hành vi đó nhưng vẫn đưa họ vào làm người thừa kế, thì những người này vẫn có quyền hưởng di chúc. Bởi lẽ, di chúc là ý chí đơn phương của người để lại di sản, nên nếu họ biết và chấp nhận những hành vi không tốt đó thì pháp luật không ngăn cấm việc người thừa kế được hưởng di sản.
>>> Tham khảo ngay: Thủ tục thừa kế đất đai không có di chúc
2.2 Nhận thừa kế theo pháp luật
Tại Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về những trường hợp thừa kế theo pháp luật như sau:
Thứ nhất, trường hợp thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp không có di chúc
Đây là những trường hợp mà người để lại di sản không lập di chúc hoặc có lập di chúc nhưng đã huỷ di chúc (Ví dụ như xé, đốt, tuyên bố huỷ bỏ di chúc đã lập,…). Trong những trường hợp này, toàn bộ di sản của người chết để lại sẽ chia cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp có di chúc nhưng di chúc không hợp pháp
Di chúc được coi là hợp pháp nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện của một giao dịch có hiệu lực theo quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015. Di chúc bị coi là không hợp pháp sẽ không có hiệu lực pháp luật. Do đó, di sản liên quan đến di chúc sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, một di chúc bất hợp pháp có thể không có hiệu lực ở những mức độ khác nhau. Di chúc bất hợp pháp có thể bị coi là vô hiệu toàn bộ nhưng cũng có thể chỉ vô hiệu một phần nên khi giải quyết một tranh chấp về thừa kế có liên quan đến di chúc phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, vào các điều kiện mà di chúc đi vi phạm để xác định mức độ vô hiệu của di chúc.

Nhận thừa kế theo pháp luật (Nguồn: Internet)
Thứ ba, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp một hoặc một số hoặc toàn bộ những người thừa kế theo di chúc đã chết hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc
Một người có thể vừa được hưởng di sản thừa kế theo di chúc lại vừa được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật nếu họ là người tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì toàn bộ di sản của người lập di chúc được dịch chuyển cho những người thừa kế theo pháp luật của người đó. Trong trường hợp chỉ có một hoặc một số người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di sản liên quan đến họ mới được áp dụng thừa kế theo pháp luật để giải quyết.
Thứ tư, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản
Những người đáng lẽ được hưởng di sản thừa kế theo di chúc nhưng lại thực hiện những hành vi đã quy định tại khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 sẽ không được hưởng di sản, trừ trường hợp người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó nhưng vẫn cho họ hưởng theo di chúc. Trong trường hợp toàn bộ những người thừa kế theo di chúc đều không có quyền hưởng di sản thì áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với toàn bộ di sản mà người lập di chúc để lại. Trong trường hợp chỉ có một số người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản thì áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản mà người lập di chúc để lại cho một số người có hành vi quy định tại khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015.
Thứ năm, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp người thừa kế theo di chúc từ chối hưởng di sản
Người thừa kế có quyền nhận, có quyền từ chối hưởng di sản của người chết để lại. Phần di sản liên quan đến người đã từ chối sẽ được áp dụng chia theo pháp luật cho những người thừa kế khác. Vì thế, khi người này từ chối hưởng di chúc theo di chúc thì họ vẫn có thể hưởng thừa kế theo pháp luật. Nhưng trong trường hợp họ đã từ chối toàn bộ quyền hưởng di sản gồm cả theo di chúc lẫn pháp luật thì toàn bộ phần di sản này sẽ chia theo pháp luật cho những người thừa kế của người lập di chúc.
Đồng thời, theo Điều 651 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về người thừa kế theo pháp luật như sau:
“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
[…]
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.”
Như vậy, mặc dù pháp luật không trực tiếp nhắc đến thuật ngữ “con ngoài giá thú” hay “con riêng” của vợ hoặc chồng, tuy nhiên, theo Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, con sinh ra không phụ thuộc vào trình trạng hôn nhân của cha mẹ đều có quyền và nghĩa vụ như nhau với cha mẹ của mình. Do đó, mà con ngoài giá thú của vợ hoặc chồng đều thuộc hàng thừa kế thứ nhất. Và tất nhiên, dù là “con chính thống” hay “con ngoài giá thú” đều sẽ được hưởng di sản như nhau, mà không có bất kỳ sự phân biệt nào.
2.3 Không được nhận thừa kế

Từ chối nhận thừa kế (Nguồn: Internet)
Tuy nhiên, không phải trường hợp nào con ngoài giá thú cũng đương nhiên được hưởng di sản thừa kế. Pháp luật Dân sự Việt Nam cũng ghi nhận các trường hợp không được hưởng di sản thừa kế, cụ thể:
– Từ chối nhận di sản theo quy định Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015
– Thuộc các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, gồm:
“1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.”
3. Thủ tục thừa kế đất đai đối với con ngoài giá thú của bố, mẹ
3.1 Hồ sơ cần thiết
Căn cứ khoản 2 Điều 9 Thông tư 24/2014/TT-BTNMT, sửa đổi bổ sung bởi khoản 2 Điều 7 Thông tư 33/2017/TT – BTNMT, hồ sơ cần chuẩn bị bao gồm:
– Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất theo mẫu số 09/ĐK;
– Hợp đồng, văn bản về việc thừa kế (trong trường hợp người thừa kế là người duy nhất thì phải có đơn đề nghị được đăng ký thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của người thừa kế);
– Bản gốc Giấy chứng nhận đã cấp

Chuẩn bị đầy đủ hồ sơ để tránh mất thời gian (Nguồn: Internet)
3.2 Thủ tục thừa kế đất đai dành cho con ngoài giá thú
Thủ tục thừa kế đất đai do cha, mẹ để lại cho con riêng của mình thực tế là thủ tục cấp, sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do đó, trình tự thủ tục sẽ bao gồm các bước sau đây:
– Bước 1. Nộp hồ sơ
- Nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất thuộc Phòng Tài nguyên và Môi trường hoặc cơ quan tiếp nhận hồ sơ theo quy định của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh;
- Hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư nộp hồ sơ tại Uỷ ban nhân dân cấp xã nếu có nhu cầu.
Lưu ý, trong trường hợp con riêng được thừa kế một phần thửa đất thì phải thực hiện việc đo đạc, tách thửa đối với phần diện tích được hưởng thừa kế trước khi nộp hồ sơ.
– Bước 2. Tiếp nhận hồ sơ
- Trong thời gian tối đa 03 ngày, cơ quan tiếp nhận, xử lý hồ sơ phải thông báo và hướng dẫn người nộp hồ sơ bổ sung, hoàn chỉnh hồ sơ theo quy định;
- Cơ quan tiếp nhận hồ sơ ghi đầy đủ thông tin vào Sổ tiếp nhận hồ sơ và trả kết quả, trao Phiếu tiếp nhận hồ sơ cho người nộp hồ sơ.
- Trường hợp nộp hồ sơ tại Uỷ ban nhân dân cấp xã thì trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ hồ sơ, Uỷ ban nhân dân cấp xã phải chuyển hồ sơ đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất.
– Bước 3. Xử lý yêu cầu
Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, nếu đủ điều kiện thực hiện các quyền theo quy định thì thực hiện các công việc theo quy định pháp luật.
>>> Tham khảo ngay: Dịch vụ tư vấn Luật Đất Đai uy tín tại Luật Bắc Dương
Trên đây là thủ tục thừa kế đất đai của con ngoài giá thú. Hy vọng bài viết đã mang lại cho bạn những kiến thức bổ ích. Nếu có bất kỳ thắc mắc hoặc câu hỏi nào, vui lòng liên hệ đến hotline 1900 996 626 để được tư vấn miễn phí!
Tiếng Việt
English








