Con sinh ra nhờ mang thai hộ được phân chia tài sản như thế nào theo Luật Dân sự về thừa kế?

Con sinh ra nhờ mang thai hộ được phân chia tài sản như thế nào theo Luật Dân sự về thừa kế?

Với sự phát triển của trình độ khoa học kỹ thuật, đặc biệt là y khoa, việc sinh con nhờ mang thai hộ không còn gì quá xa lạ. Vậy trong trường hợp này, việc phân chia tài sản theo luật dân sự về thừa kế có gì khác biệt hay không? Hãy tham khảo bài viết dưới đây của Luật Bắc Dương để có câu trả lời chính xác nhất

1. Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo?

1.1 Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là gì? (khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014)

Căn cứ khoản 22 Điều 3 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, “Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là việc một người phụ nữ tự nguyện, không vì mục đích thương mại mang thai cho cặp vợ chồng mà người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, bằng việc lấy noãn của người vợ và tinh trùng của người chồng để thụ tinh trong ống nghiệm, sau đó cấy vào tử cung của người phụ nữ tự nguyện mang thai để người này mang thai và sinh con”. 

Liên hệ ngay hotline tư vấn luật miễn phí 1900 996626

Liên hệ ngay hotline tư vấn luật miễn phí 1900 996626

Như vậy, để được coi là mang thai hộ vì mục đích nhân đạo phải đáp ứng được các yếu tố:

– Người mang thai hộ tự nguyện mang thai hộ, không vì mục đích thương mại;

– Bên nhờ mang thai hộ phải là vợ chồng hợp pháp, không thể mang thai và sinh con ngay cả khi đã áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

– Sử dụng phương pháp thụ thai bằng cách can thiệp về mặt y học, phi tự nhiên thông qua phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm. 

1.2 Điều kiện của bên nhờ mang thai hộ 

Căn cứ khoản 2 Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, vợ chồng có quyền nhờ người mang thai hộ khi có đủ các điều kiện sau đây:

“a) Có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản;

b) Vợ chồng đang không có con chung;

c) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý”.

Thứ nhất, bên nhờ mang thai hộ phải là vợ chồng hợp pháp

Quy định này thể hiện sự “bảo hộ” của nhà nước đối với quan hệ hôn nhân. Mặt khác, hôn nhân là cơ sở để hình thành gia đình. Do vậy, việc quy định bên nhờ mang thai hộ phải là cặp vợ chồng hợp pháp còn có ý nghĩa trong việc giúp cho gia đình thực hiện chức năng cơ bản và đảm bảo quyền lợi cho đứa trẻ sinh ra được sống trong môi trường gia đình. 

Thứ hai, có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về việc người vợ không thể mang thai và sinh con ngay cả khi áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản

Quy định này được đặt ra nhằm tránh việc nhờ người khác mang thai hộ một cách bừa bãi, hạn chế việc lợi dụng mang thai hộ trong khi người phụ nữ vẫn còn khả năng làm mẹ, tránh tình trạng thương mại hoá mang thai hộ. Theo đó, cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ phải là cặp vợ chồng vô sinh và dù đã áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản nhưng người vợ vẫn không thể mang thai và sinh con. 

Thứ ba, vợ chồng đang không có con chung

Với quy định này, sẽ dẫn đến hai cách hiểu. (1) Vợ chồng nhờ mang thai hộ chưng từng có con chung cho đến thời điểm nhờ bên mang thai hộ (vô sinh nguyên phát). (2) Vợ chồng nhờ mang thai hộ có thể đã từng có con chung nhưng ở thời điểm hiện tại, đứa con đã không còn sống hoặc còn sống nhưng bị bệnh tâm thần hoặc một số bệnh khác làm cho đứa con không còn nhưng người mẹ lại không thể thụ thai được nữa (vô sinh thứ phát). 

Thứ tư, vợ chồng nhờ mang thai hộ đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý

Quy định này nhằm đảm bảo cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ có thể hiểu rõ mọi mặt của vấn đề này, tránh xảy ra sai sót cũng như tranh chấp trong tương lai do thiếu hiểu biết, đảm bảo hiệu quả trong quá trình mang thai hộ. 

Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý

Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý

1.3 Điều kiện của bên mang thai hộ (khoản 3 Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014)

Căn cứ khoản 3 Điều 95 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, người được nhờ mang thai hộ phải có đủ các điều kiện sau đây:

“a) Là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ;

b) Đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần;

c) Ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ;

d) Trường hợp người phụ nữ mang thai hộ có chồng thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của người chồng;

đ) Đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý”.

Thứ nhất, bên mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ

Quy định này nhằm hạn chế tối đa tình trạng mang thai hộ vì mục đích thương mại. Tuy nhiên, quy định này cũng là một “rào cản” đối với các cặp vợ chồng có mong muốn nhờ mang thai hộ. Việc hạn chế phạm vi những người được quyền mang thai hộ đã khiến cho các cặp vợ chồng vô sinh không có anh chị em hoặc có chị em nhưng những người này chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng chưa từng sinh con, không thể thực hiện quyền của mình. 

Thứ hai, bên mang thai hộ phải đã từng sinh con và chỉ được mang thai hộ một lần

Việc yêu cầu người phụ nữ đã từng sinh con là cần thiết bởi mang thai và sinh con là một quá trình đặc biệt. Việc đã từng sinh con sẽ giúp người phụ nữ chuẩn bị về mặt tâm lý cũng như có kinh nghiệm, kỹ năng trong vấn đề chăm sóc bản thân và thai nhi nhằm đảm bảo thực hiện việc mang thai hộ. Đồng thời tạo ra tâm lý ổn định và sự hài hoà về mặt tình cảm cho cả bên nhờ mang thai hộ và bên nhận mang thai hộ. 

Thứ ba, bên mang thai hộ phải ở độ tuổi phù hợp và có xác nhận của tổ chức y tế có thẩm quyền về khả năng mang thai hộ

Hiện nay, pháp luật chưa có quy định thế nào là độ tuổi phù hợp. Tuy nhiên, có thể suy đoán độ tuổi phù hợp là độ tuổi sinh đẻ nói chung theo các nghiên cứu khoa học cũng như quan niệm của xã hội. Theo nghiên cứu của các hiệp hội sản phụ khoa trên thế giới, thông thường, độ tuổi sinh sản tốt nhất của người phụ nữ là khoảng từ 20 đến 35 tuổi, lúc này cơ thể người phụ nữ đã phát triển đầy đủ về mặt tâm sinh lý cho việc làm mẹ. 

Thứ tư, bên mang thai hộ đã được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý

Tương tự như bên nhờ mang thai hộ, bên mang thai hộ phải được tư vấn về y tế, pháp lý, tâm lý nhằm đem lại những hiểu biết tổng quan nhất về vấn đề mang thai hộ. 

Bên mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ

Bên mang thai hộ phải là người thân thích cùng hàng của bên vợ hoặc bên chồng nhờ mang thai hộ

2. Phân biệt giữa mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và mang thai hộ vì mục đích thương mại

Căn cứ khoản 23 Điều 3 Luật hôn nhân và Gia đình 2014, “mang thai hộ vì mục đích thương mại là việc một người phụ nữ mang thai cho người khác bằng việc áp dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản để được hưởng lợi về kinh tế hoặc lợi ích khác”. 

Như vậy, mang thai hộ vì mục đích nhân đạo và mục đích thương mại có một số điểm khác biệt cần phải lưu ý như sau:

Thứ nhất, về mục đích và điều kiện mang thai.

Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là bên mang thai hộ tự nguyện, không vì lợi ích vật chất hoặc một lợi ích nào khác, đồng thời phải tuân thủ theo điều kiện mà pháp luật quy định đối với bên mang thai hộ và người nhờ mang thai hộ. Trong khi đó, hoạt động mang thai hộ vì mục đích thương mại là chỉ nhằm vào các lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác mà không có bất kỳ điều kiện nào đối với bên mang thai hộ cũng như người nhờ mang thai hộ. Tất cả chỉ căn cứ trên cơ sở nhu cầu của người nhờ mang thai hộ.  

Thứ hai, về ý nghĩa.

Chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo có rất nhiều ý nghĩa như: (1) Góp phần đảm bảo quyền con người; (2) Góp phần làm lành mạnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, ổn định đời sống xã hội; (3) Góp phần thúc đẩy sự ứng dụng thành tựu của y học Việt Nam đối với việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản,… Trong khi đó, mang thai vì mục đích thương mại lại phần nào làm lệch lạc đi ý nghĩa nhân đạo của việc mang thai hộ, bởi lẽ, nó chủ yếu đề cao giá trị vật chất cũng như các quyền lợi mà đôi bên cùng nhận được. Điều này đồng nghĩa với việc, mang thai hộ giống như một “giao dịch dân sự thông thường” mà không có bất kỳ ý nghĩa nhân văn nào khác. 

3. Con sinh ra nhờ mang thai hộ được thừa kế như thế nào?

3.1 Xác định cha, mẹ trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Điều 94 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014)

Điều 94 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 quy định: “Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra”. Khác với trường hợp xác định cha, mẹ, con dựa trên sự kiện sinh đẻ khác, đối với trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo thì người sinh ra đứa trẻ không được xác định là mẹ của đứa trẻ. Mà theo đó, đứa trẻ sinh ra là con chung của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ. 

Quy định như vậy là hợp lý, bởi lẽ vấn đề mang thai hộ được đặt ra nhằm đảm bảo quyền làm cha mẹ của những cặp vợ chồng vô sinh không thể có con kể cả khi đã sử dụng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản, còn bên mang thai hộ chỉ nhằm mục đích nhân đạo, giúp đỡ mà không có mục đích làm mẹ. Vì vậy, quy định này không chỉ đảm bảo mục đích của mang thai hộ mà còn giúp ổn định mối quan hệ cha mẹ – con, tránh việc xảy ra tranh chấp. 

3.2 Quyền thừa kế của con sinh ra nhờ mang thai hộ 

Đầu tiên, cần khẳng định con sinh ra nhờ mang thai hộ có quyền được hưởng thừa kế như bình thường theo quy định tại Điều 94 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014. Căn cứ vào Bộ luật Dân sự 2015, việc nhận thừa kế được chia làm 02 hình thức: (1) Nhận thừa kế theo di chúc và (2) Nhận thừa kế theo pháp luật. 

Nhận thừa kế theo di chúc 

Nhận thừa kế theo di chúc

a. Nhận thừa kế theo di chúc 

Căn cứ vào Điều 624 Bộ luật Dân sự 2015: “Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết”. Do đó, người lập di chúc có thể để lại di sản cho bất kỳ ai mà họ mong muốn, miễn là xác định cụ thể trên cơ sở tự nguyện ở trong di chúc. 

>>> Tham khảo ngay: Thủ tục thừa kế đất đai không có di chúc

b. Nhận thừa kế theo pháp luật (Điều 651 BLDS 2015) 

Tại Điều 650 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về những trường hợp thừa kế theo pháp luật như sau:

Thứ nhất, trường hợp thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp không có di chúc

Đây là những trường hợp mà người để lại di sản không lập di chúc hoặc có lập di chúc nhưng đã huỷ di chúc (Ví dụ như xé, đốt, tuyên bố huỷ bỏ di chúc đã lập,…). Trong những trường hợp này, toàn bộ di sản của người chết để lại sẽ chia cho những người thừa kế theo quy định của pháp luật. 

Thứ hai, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp có di chúc nhưng di chúc không hợp pháp

Di chúc được coi là hợp pháp nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện của một giao dịch có hiệu lực theo quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015. Di chúc bị coi là không hợp pháp sẽ không có hiệu lực pháp luật. Do đó, di sản liên quan đến di chúc sẽ được giải quyết theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, một di chúc bất hợp pháp có thể không có hiệu lực ở những mức độ khác nhau. Di chúc bất hợp pháp có thể bị coi là vô hiệu toàn bộ nhưng cũng có thể chỉ vô hiệu một phần nên khi giải quyết một tranh chấp về thừa kế có liên quan đến di chúc phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, vào các điều kiện mà di chúc đi vi phạm để xác định mức độ vô hiệu của di chúc. 

Thứ ba, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp một hoặc một số hoặc toàn bộ những người thừa kế theo di chúc đã chết hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc

Một người có thể vừa được hưởng di sản thừa kế theo di chúc lại vừa được hưởng di sản thừa kế theo pháp luật nếu họ là người tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì toàn bộ di sản của người lập di chúc được dịch chuyển cho những người thừa kế theo pháp luật của người đó. Trong trường hợp chỉ có một hoặc một số người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, cơ quan, tổ chức hưởng di sản theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di sản liên quan đến họ mới được áp dụng thừa kế theo pháp luật để giải quyết. 

Thừa kế theo pháp luật 

Thừa kế theo pháp luật

Thứ tư, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản

Những người đáng lẽ được hưởng di sản thừa kế theo di chúc nhưng lại thực hiện những hành vi đã quy định tại khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015 sẽ không được hưởng di sản, trừ trường hợp người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó nhưng vẫn cho họ hưởng theo di chúc. Trong trường hợp toàn bộ những người thừa kế theo di chúc đều không có quyền hưởng di sản thì áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với toàn bộ di sản mà người lập di chúc để lại. Trong trường hợp chỉ có một số người thừa kế theo di chúc không có quyền hưởng di sản thì áp dụng thừa kế theo pháp luật đối với phần di sản mà người lập di chúc để lại cho một số người có hành vi quy định tại khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015. 

Thứ năm, thừa kế theo pháp luật được áp dụng trong trường hợp người thừa kế theo di chúc từ chối hưởng di sản

Người thừa kế có quyền nhận, có quyền từ chối hưởng di sản của người chết để lại. Phần di sản liên quan đến người đã từ chối sẽ được áp dụng chia theo pháp luật cho những người thừa kế khác. Vì thế, khi người này từ chối hưởng di chúc theo di chúc thì họ vẫn có thể hưởng thừa kế theo pháp luật. Nhưng trong trường hợp họ đã từ chối toàn bộ quyền hưởng di sản gồm cả theo di chúc lẫn pháp luật thì toàn bộ phần di sản này sẽ chia theo pháp luật cho những người thừa kế của người lập di chúc. 

>>> Tham khảo ngay: Thủ tục thừa kế đất đai đối với con ngoài giá thú của bố, mẹ

c. Các trường hợp không được hưởng di sản thừa kế (Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015)

Tuy nhiên, không phải trường hợp nào con nuôi cũng đương nhiên được hưởng di sản thừa kế. Bên cạnh việc, con nuôi không hợp pháp thì không được hưởng di sản thừa kế, thì pháp luật Dân sự Việt Nam cũng ghi nhận các trường hợp không được hưởng di sản thừa kế, cụ thể:

– Từ chối nhận di sản theo quy định Điều 620 Bộ luật Dân sự 2015

– Thuộc các trường hợp quy định tại Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, gồm:

“1. Những người sau đây không được quyền hưởng di sản:

a) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;

b) Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;

c) Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;

d) Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.

2. Những người quy định tại khoản 1 Điều này vẫn được hưởng di sản, nếu người để lại di sản đã biết hành vi của những người đó, nhưng vẫn cho họ hưởng di sản theo di chúc.”

Trên đây là bài viết về việc chia thừa kế cho con có được nhờ mang thai hộ theo luật dân sự về thừa kế. Hy vọng bài viết đã mang lại cho bạn những kiến thức bổ ích. Nếu có bất kỳ thắc mắc hoặc câu hỏi nào, vui lòng liên hệ đến hotline 1900.996626 để được tư vấn miễn phí!