Người chưa thành niên gây rối trật tự công cộng - Ai sẽ là người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại?

Người chưa thành niên gây rối trật tự công cộng – Ai sẽ là người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại?

Người chưa thành niên là một đối tượng đặc biệt, bởi họ chưa phát triển hoàn thiện về mặt thể chất lẫn tinh thần, đặc biệt là chưa có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người thành niên. Do đó, bất kỳ hành vi phạm tội nào của người dưới 18 tuổi đều được pháp luật điều chỉnh một cách chặt chẽ. Vậy, người chưa thành niên gây rối trật tự công cộng, ai sẽ là người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại? Hãy tham khảo bài viết dưới đây của Luật Bắc Dương để có câu trả lời chính xác nhất

1. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015

1.1 Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại 

Theo quy định của pháp luật hiện hành, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên chỉ phát sinh khi thoả mãn quy định tại khoản 1 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015, cụ thể:

“1. Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”.

Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên sẽ phát sinh khi: (1) Có thiệt hại xảy ra; (2) Có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại; (3) Có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật gây thiệt hại. 

Liên hệ ngay hotline tư vấn luật miễn phí 1900 996626

Liên hệ ngay hotline tư vấn luật miễn phí 1900 996626

Thứ nhất, có thiệt hại xảy ra

Thiệt hại được coi là căn cứ quan trọng tiên quyết cần xem xét tới để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại có phát sinh hay không. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ chỉ phát sinh trên cơ sở đã có thiệt hại xảy ra. Do vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung hoặc trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra nói riêng chỉ phát sinh khi một trong các bên chứng minh được có thiệt hại xảy ra. 

Thứ hai, có hành vi gây thiệt hại trái pháp luật

Nếu như thiệt hại là điều kiện tiên quyết để xem xét có hay không có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra, thì hành vi trái pháp luật là điều kiện thứ hai sau điều kiện có thiệt hại thực tế xảy ra, để chứng minh có trách nhiệm bồi thường thiệt hại hay không.

Hành vi gây thiệt hại trái pháp luật

Hành vi gây thiệt hại trái pháp luật

Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại xảy ra và hành vi trái pháp luật gây thiệt hại 

Mối quan hệ nhân quả được hiểu nguyên nhân này sẽ sinh ra kết quả này và nguyên nhân kia lại sinh ra một kết quả khác, nguyên nhân sẽ có trước và kết quả có sau. Trong quan hệ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng vậy, để nhận diện hành vi trái pháp luật có phải là nguyên nhân gây ra thiệt hại hay không cũng không phải dễ dàng. Thông thường, để xác định hành vi trái pháp luật là nguyên nhân dẫn đến thiệt hại, thường hay dựa vào một số dấu hiệu nhận biết cơ bản sau:

– Hành vi trái pháp luật và nguyên nhân dẫn đến thiệt hại xảy ra nên hành vi và thiệt hại thường xảy ra trong một phạm vi không gian nhất định;

– Hành vi trái pháp luật của người chưa thành niên xảy ra trước và thiệt hại thực tế xảy ra sau;

– Hành vi trái pháp luật của người chưa thành niên là nguyên nhân trực tiếp quyết định đến thiệt hại. 

>>> Tham khảo ngay: Thủ tục thừa kế đất đai đối với con ngoài giá thú của bố, mẹ

1.2 Năng lực bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên 

1.2.1 Người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại 

Trong trường hợp người chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại thì về nguyên tắc cha mẹ của người chưa thành niên có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, cụ thể:

“2. Người chưa đủ mười lăm tuổi gây thiệt hại mà con cha, mẹ thì cha, mẹ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại; nếu tài sản của cha, mẹ không đủ để bồi thường mà con chưa thành niên gây thiệt hại có tài sản riêng thì lấy tài sản đó để bồi thường phần còn thiếu, trừ trường hợp quy định tại Điều 599 của Bộ luật này”.

Như vậy có thể thấy, ngoại trừ trường hợp con chưa thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại trong thời gian trường học đang quản lý, về nguyên tắc cha mẹ phải bồi thường thiệt hại do con chưa thành niên gây ra. Pháp luật Việt Nam quy định trường hợp người chưa thành niên gây thiệt hại chủ thể phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại nhưng không đồng nghĩa với việc, cha mẹ và con chưa thành niên dưới 15 tuổi cùng liên đới bồi thường thiệt hại. Bởi lẽ, trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại chỉ phát sinh giữa những người cùng gây thiệt hại. Trong khi đó, khi người thành niên dưới 15 tuổi gây thiệt hại, thì chỉ có người chưa thành niên gây thiệt hại còn cha mẹ của họ thì không. Nhưng cha mẹ lại có trách nhiệm bồi thường thiệt hại, nếu trong trường hợp cần lấy tài sản riêng của con chưa thành niên gây thiệt hại thì tài sản lấy tương ứng với phần còn thiếu cần phải bồi thường chứ không theo mức độ lỗi của con chưa thành niên hay cha mẹ và con chưa thành niên phải bồi thường bằng nhau. 

Bố mẹ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho con

Bố mẹ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho con

1.2.2 Người chưa thành niên từ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi gây thiệt hại Theo khoản 2 Điều 568 Bộ luật Dân sự 2015: “Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gây thiệt hại thì phải bồi thường bằng tài sản của mình; nếu không đủ tài sản để bồi thường thì cha, mẹ phải bồi thường phần còn thiếu bằng tài sản của mình”.

Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện hành, khi người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi gây thiệt hại thì trước tiên chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại là người chưa thành niên. Nếu trường hợp người chưa thành niên không đủ tài sản để bồi thường thiệt hại thì cha mẹ của người chưa thành niên phải dùng tài sản của mình để bồi thường nếu còn thiếu.

2. Căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra

2.1 Nguyên tắc bồi thường thiệt hại

Nguyên tắc bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015 và được giải thích chi tiết tại Điều 3 Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP.

Thứ nhất, tôn trọng sự thỏa thuận của các bên nhưng thiệt hại thực tế được bồi thường toàn bộ và kịp thời

“1. Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.

Quy định này thể hiện nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận của các bên. Chế định trên được hiểu là, thiệt hại bao nhiêu bồi thường bấy nhiêu, việc bồi thường thiệt hại phải được tiến hành nhanh chóng, nhằm hạn chế thiệt hại và kịp thời ngăn chặn thiệt hại, giúp người bị thiệt hại có khả năng phục hồi những lợi ích đã bị xâm phạm. 

Thứ hai, nguyên tắc giảm mức bồi thường thiệt hại 

“2. Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý mà thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình”.

Theo đó, thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của người chịu trách nhiệm bồi thường là trường hợp có căn cứ chứng minh rằng, nếu Toà án tuyên buộc bồi thường toàn bộ thiệt hại thì không có điều kiện thi hành án.

Ví dụ: Một người vô ý làm cháy nhà người khác gây thiệt hại 1 tỷ đồng. Người gây thiệt hại có tổng tài sản là 100 triệu đồng, thu nhập trung bình hàng tháng là 2 triệu đồng. Mức thiệt hại này là quá lớn so với khả năng kinh tế của người gây thiệt hại. 

Thiệt hại quá lớn so với điều kiện kinh tế 

Thiệt hại quá lớn so với điều kiện kinh tế

Thứ ba, nguyên tắc thay đổi mức bồi thường thiệt hại

Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường theo quy định tại khoản 3 Điều 585 Bộ luật Dân sự 2015. 

Thứ tư, nguyên tắc xác định thiệt hại phải bồi thường

“4. Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra”.

Theo đó, nếu thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại thì người gây thiệt hại sẽ không phải bồi thường. Trường hợp người bị thiệt hại hoàn toàn có lỗi được xác định là một trong các căn cứ loại trừ trách nhiệm bồi thường thiệt hại nói chung và trường hợp thiệt hại do người chưa thành niên gây ra nói riêng theo khoản 2 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015. Trường hợp người bị thiệt hại có lỗi một phần mức độ lỗi của người bị thiệt hại là một trong các thành tố xác định mức bồi thường thiệt hại mà người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải gánh chịu.

Thứ năm, nguyên tắc xác định nghĩa vụ hạn chế tổn thất

“5. Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình”.

Trên thực tế, người bị thiệt hại trong nhiều trường hợp đã không thiện chí khắc phục thiệt hại. Do đó, quy định này về việc bên bị thiệt hại phải áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn thiệt hại cho chính mình được xem là hoàn toàn phù hợp, tác động của quy định này nhằm nâng cao trách nhiệm của người bị thiệt hại với lợi ích của chính mình và lợi ích của cộng đồng. Trong nhiều trường hợp, nếu thiệt hại không được ngăn chặn thì lợi ích của xã hội cũng bị ảnh hưởng. 

2.2 Xác định thiệt hại 

Là một trường hợp trong trách nhiệm thiệt hại ngoài hợp đồng, trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người chưa thành niên gây ra sẽ áp dụng chung với các quy định về phương thức, thành tố xác định thiệt hại từ Điều 589 đến Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015. Một số quy định được giải thích chi tiết tại Nghị quyết 02/2022/NQ-HĐTP, cụ thể:

– Thiệt hại do tài sản bị xâm phạm (Điều 589 Bộ luật Dân sự 2015);

– Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm (Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015);

– Thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm (Điều 591 Bộ luật Dân sự 2015);

– Thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm (Điều 592 Bộ luật Dân sự 2015). 

>> Tham khảo ngay: Luật sư tư vấn giỏi tại Hà Nội

3. Những trường hợp loại trừ, giảm trách nhiệm bồi thường thiệt hại 

Theo quy định tại khoản 2 Điều 584 Bộ luật Dân sự 2015, trong trường hợp sau mặc dù có hành vi gây thiệt hại nhưng trách nhiệm bồi thường do người chưa thành niên không được đặt ra nếu:

“2. Người gây thiệt hại không phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp thiệt hại phát sinh là do sự kiện bất khả kháng hoặc hoàn toàn do lỗi của bên bị thiệt hại, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật có quy định khác”.

Theo quy định này, sẽ không phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau:

– Gây thiệt hại do sự kiện bất khả kháng;

– Gây thiệt hại trong trường hợp phòng vệ chính đáng;

– Gây thiệt hại trong trường hợp tình thế cấp thiết.

Loại trừ trách nhiệm trong một số trường hợp nhất định 

Loại trừ trách nhiệm trong một số trường hợp nhất định

Trên đây là bài viết về người chưa thành niên gây rối trật tự công cộng, ai sẽ là người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại? Hy vọng bài viết đã mang lại cho bạn những kiến thức bổ ích. Nếu có bất kỳ thắc mắc hoặc câu hỏi nào, vui lòng liên hệ đến hotline 1900.996626 để được tư vấn miễn phí!